Điều trị bệnh bằng phương pháp ghép tế bào gốc như thế nào? 

Phương pháp ghép tế bào gốc mang đến tiềm năng lớn trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh, đặc biệt là những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư, bạch cầu… Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ về kỹ thuật ghép tế bào gốc.

Cùng Medeze tìm hiểu về phương pháp này thông qua bài viết dưới đây nhé!

Ghép tế bào gốc là gì?

Ghép tế bào gốc là quá trình đưa tế bào gốc đã được sàng lọc vào cơ thể, nhằm phục hồi các tế bào đã bị phá hủy để cải thiện sức khỏe cho con người. 

Trên cơ thể con người, tế bào gốc có thể được tìm thấy trong tủy xương, máu ngoại vi, dây rốn… Ngoài ra, hiện nay các chuyên gia đã nghiên cứu và tạo ra Tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPSC) – loại tế bào nhân tạo có khả năng biệt hóa thành bất kỳ loại tế bào chuyên biệt nào. Đây được xem là một bước tiến lớn của công nghệ tế bào gốc nói chung và phương pháp tế bào gốc nói riêng nhằm mở ra nhiều tiềm năng trong việc nghiên cứu, điều trị bệnh mà không cần phụ thuộc vào nguồn tế bào gốc từ con người.

Điều trị bệnh bằng phương pháp ghép tế bào gốc như thế nào? 
Tế bào gốc có rất nhiều tiềm năng trong điều trị bệnh

Các phương pháp ghép tế bào gốc

Các phương pháp ghép tế bào gốc có thể được phân chia thành hai loại dựa trên nguồn tế bào gốc được sử dụng: ghép tế bào gốc tự thân và ghép tế bào gốc dị thân.

Ghép tế bào gốc tự thân

Phương pháp ghép tế bào gốc tự thân sử dụng tế bào gốc từ chính cơ thể của người bệnh. Khối tế bào gốc máu được thu gom từ tủy xương, máu ngoại vi hoặc dây rốn của bệnh nhân. Chúng được lưu trữ trong điều kiện đặc biệt, sau đó được truyền trả lại cho bệnh nhân nhằm phục hồi mô tạo máu. 

Phương pháp ghép tế bào gốc tự thân được chỉ định cho các bệnh lý như: Đa u tủy xương, U lympho Hodgkin, U lympho không Hodgkin, Lơ-xê-mi cấp tiền tủy bào, một vài loại bệnh ung thư như ung thư tinh hoàn… 

Theo các nhà khoa học, ghép tế bào gốc tự thân có những ưu điểm tuyệt vời đối với người bệnh. Đầu tiên, bệnh nhân sử dụng phương pháp này sẽ không cần phải lo lắng về việc cơ thể đào thải những tế bào gốc mới được cấy ghép. Đồng thời, người bệnh cũng sẽ tránh được việc các tế bào mới này tấn công tế bào khỏe mạnh trong cơ thể mình (được gọi là bệnh ghép chống chủ cấp tính – graft versus host disease – GVHD). Đây vốn là những biến chứng có thể gây nguy hiểm cho người bệnh sau cấy ghép.   

Ghép tế bào gốc dị thân

Khác với cấy ghép tế bào gốc tự thân, phương pháp ghép tế bào gốc dị thân sử dụng tế bào gốc từ người hiến tặng. Các bác sĩ sử dụng biện pháp xét nghiệm HLA (tức là kháng nguyên liên kết giữa bạch cầu người) để xác định mức độ phù hợp giữa bệnh nhân và người hiến tặng tế bào gốc. Dựa trên mức độ tương thích, ghép tế bào gốc dị thân được chia ra làm hai kiểu: ghép tế bào gốc phù hợp HLA và ghép tế bào gốc nửa hòa hợp (Haplotype).

Ghép tế bào gốc phù hợp HLA

Đây là phương pháp ghép tế bào gốc giữa bệnh nhân và người hiến tặng có chỉ số HLA phù hợp với nhau. Kết quả này thường xảy ra khi người hiến có cùng huyết thống với người bệnh (anh/chị/em ruột). Ưu điểm của phương pháp này là người hiến tặng thường sẽ đồng ý cho thêm tế bào gốc nếu cần. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp người thân nào cũng có HLA phù hợp 100%. Theo quy luật di truyền, chỉ có khoảng 30% người bệnh có anh/chị/em ruột tương thích HLA.

Bên cạnh đó, vẫn có những trường hợp người hiến tặng tế bào gốc không phải quan hệ ruột thịt nhưng có chỉ số HLA tương thích cao. Điều này đã mở ra cơ hội đầy hứa hẹn cho các bệnh nhân không thể tìm được tế bào gốc từ người thân. Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp cho ghép cùng huyết thống và không cùng huyết thống không có quá nhiều khác biệt về hiệu quả lâm sàng, miễn họ có chỉ số HLA phù hợp.

Ghép tế bào gốc nửa hòa hợp (Haplotype)

Không phải bệnh nhân nào cũng tìm được nguồn tế bào gốc hoàn toàn tương thích với mình. Chính vì vậy, phương pháp ghép tế bào gốc nửa hòa hợp được xem là hướng đi tiềm năng giúp giải quyết vấn đề này. Ưu điểm của phương pháp ghép tế bào gốc nửa hòa hợp là sự sẵn có nguồn tế bào gốc khi người bệnh cần, giúp họ không phải chờ đợi. Tuy nhiên, tế bào gốc đến từ nguồn này lại có tỉ lệ bị đào thải hoặc khiến bệnh nhân rơi vào tình trạng bệnh ghép chống chủ cấp tính (GVHD) cao hơn. 

Ghép dị thân được áp dụng trong việc điều trị cả bệnh ác tính như Lơ-xê-mi kinh dòng bạch cầu hạt, Hội chứng rối loạn sinh tủy… hoặc các bệnh lành tính như suy tủy xương, Thalassemia…

Cách tiến hành ghép tế bào gốc

Thu nhận tế bào gốc

Đối với phương pháp ghép tế bào gốc tự thân, người bệnh phải đảm bảo đang ở trong thời gian lui bệnh hoặc có sức khỏe tốt để thực hiện lấy tế bào gốc. 

Đối với phương pháp ghép dị thân, cả người bệnh và người hiến tặng đều được kiểm tra sức khỏe để đảm bảo đủ điều kiện cho việc trao và nhận tế bào gốc. Sau đó, họ được chỉ định xét nghiệm HLA để đo lường mức độ phù hợp với nhau. 

Sau quá trình kiểm tra tổng quát, bác sĩ tiêm thuốc kích bạch cầu vào người được lấy tế bào gốc, sau đó thu thập tế bào gốc cho đủ số lượng. Bác sĩ sẽ lưu trữ số tế bào gốc này ở điều kiện đặc biệt trong lúc chờ đến bước tiếp theo.

Điều trị bệnh bằng phương pháp ghép tế bào gốc như thế nào? 
Tế bào gốc được lưu trữ trong điều kiện với nhiều tiêu chuẩn riêng

Điều trị theo phác đồ “điều kiện hóa”

Ở bước này của phương pháp ghép tế bào gốc, người bệnh không chỉ trải qua phác đồ điều trị hóa chất tiêu chuẩn thông thường. Bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng phác đồ điều trị gồm các loại hóa chất có liều cao và tác dụng mạnh hơn cho bệnh nhân. Đây gọi là phác đồ “điều kiện hóa”. 

Mục đích của việc này là tạo ra “khoảng trống” trong tủy xương người nhận, giúp tế bào gốc được truyền vào có thể ghép nối với những tế bào sẵn có. Bên cạnh đó, việc này cũng giúp ức chế miễn dịch của người nhận, từ đó ngăn ngừa tình trạng thải ghép. Đặc biệt, với các căn bệnh ác tính, sử dụng phác đồ “điều kiện hóa” sẽ tiêu diệt các tế bào ác tính một cách triệt để nhất, để những tế bào gốc mới có thời gian để phát triển hỗ trợ cho việc chống lại khối u.

Ghép tế bào gốc

Sau quá trình điều trị “điều kiện hóa” trong phương pháp ghép tế bào gốc, các bác sĩ sẽ đưa khối tế bào gốc vào cơ thể bệnh nhân qua đường tĩnh mạch. Chúng sẽ bắt đầu quá trình tăng sinh, phát triển thành những tế bào mới thay thế cho số tế bào đã bị tiêu diệt. Đặc biệt trong ghép dị thân điều trị bệnh ác tính, đây sẽ là giai đoạn các tế bào gốc mới “chiến đấu” cùng các tế bào ung thư để tiêu diệt chúng. 

Điều trị bệnh bằng phương pháp ghép tế bào gốc như thế nào? 
Các y bác sĩ đang truyền tế bào gốc cho người bệnh trong phòng cách ly

Giai đoạn phục hồi

Người bệnh sau khi cấy ghép tế bào gốc sẽ được bác sĩ theo dõi để tránh những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra như bệnh ghép chống chủ cấp tính, xuất huyết… Việc hồi phục hoàn toàn chức năng miễn dịch có thể mất nhiều thời gian, từ vài tháng đến hai năm tùy theo phương pháp ghép tế bào gốc bệnh nhân sử dụng.

Các tác dụng phụ thường gặp

Suy yếu hệ miễn dịch

Trước khi cấy ghép tế bào gốc, hệ thống miễn dịch của bệnh nhân bị tiêu diệt nên cần thời gian để hồi phục trở lại. Trong lúc này, hệ thống miễn dịch của bệnh nhân sẽ bị suy yếu, có nguy cơ bị nhiễm trùng. Lúc này, bác sĩ sẽ áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa như sử dụng thuốc kháng sinh giúp tăng sức đề kháng cho bệnh nhân đã trải qua phương pháp ghép tế bào gốc.

Bệnh ghép chống chủ cấp tính (GVHD)

Đây là tình trạng xảy ra khi các tế bào của người hiến tặng tấn công các tế bào mạnh khỏe trong cơ thể của người bệnh hoặc ngược lại. Đây là biến chứng thường gặp trong ghép tế bào gốc dị thân. Theo một nghiên cứu, khoảng 50% bệnh nhân ghép tế bào gốc dị thân gặp biến chứng này, kể cả đã có dự phòng bằng thuốc ức chế miễn dịch hay không. Biểu hiện của bệnh ghép chống chủ cấp tính có thể xảy ra ngay sau khi cấy ghép hoặc một thời gian sau. Hiện nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã mang đến nhiều triển vọng trong việc điều trị bệnh ghép chống chủ.

Xuất huyết

Một vài bệnh nhân sử dụng phương pháp ghép tế bào gốc, khoảng thời gian sau khi cấy ghép, số lượng tiểu cầu giúp đông máu bị suy giảm dẫn đến hiện tượng xuất huyết ở người bệnh. Nếu tình trạng này kéo dài, bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân truyền máu để giữ được chỉ số an toàn. 

Ngoài ra, người bệnh cũng có thể gặp những tác dụng phụ khác như lở miệng, bệnh tắc tĩnh mạch gan… Về lâu dài, người bệnh có nguy cơ đối mặt với những tác dụng phụ như thay đổi nội tiết tố, đục thủy tinh thể… 

Chi phí cấy ghép tế bào gốc

Chi phí cấy ghép tế bào gốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phương pháp ghép tế bào gốc, nguồn tế bào gốc, tình trạng biến chứng sau cấy ghép,… Chi phí cho ghép tế bào gốc tự thân sẽ thấp hơn những phương pháp khác. Nhìn chung tại Việt Nam, chi phí ghép tế bào gốc (sau khi trừ chi phí được hưởng Bảo hiểm y tế) có thể dao động từ 100 triệu đồng đến 1,2 tỷ đồng. Một vài trường hợp đặc biệt, mức chi phí này có thể cao hoặc thấp hơn.

Có thể thấy, phương pháp ghép tế bào gốc đã khẳng định được tiềm năng của mình trong việc chữa trị nhiều căn bệnh từ lành tính đến ác tính. Vì vậy, hiện nay nhu cầu tìm hiểu về việc lưu trữ tế bào gốc nhằm đảm bảo cho một tương lai mạnh khỏe đang được rất nhiều người quan tâm. Hãy liên hệ Ngân Hàng Lưu Trữ Tế Bào Gốc – Bảo Hiểm Sức Khỏe Trọn Đời Cho Bé Medeze ngay từ hôm nay để được tư vấn về những dịch vụ hợp lý, an toàn và đáng tin cậy. 

Medeze – Ngân Hàng Lưu Trữ Tế Bào Gốc – Bảo Hiểm Sức Khỏe Trọn Đời Cho Bé

TP. Hồ Chí Minh

  • C34, Khu Biệt thự Thạnh Xuân, Phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • 116 Nguyễn Văn Hưởng, Phường Thảo Điền, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hà Nội

  • Tòa nhà Icon4, Tầng 16, 243A Đê La Thành, Quận Đống Đa, Hà Nội.

Hotline: 1900 633 686.

Tham khảo:

vista.gov.vn

cancer.org

vienhuyethoc.vn

lmruk.org

mdanderson.org