Khi bắt đầu tìm hiểu về tế bào gốc, một trong những câu hỏi phổ biến nhất là “Có bao nhiêu loại tế bào gốc?”.

Không có một câu trả lời nào chính xác tuyệt đối bởi vì người ta có thể phân loại tế bào gốc theo tiềm năng biệt hóa (những gì chúng có thể biến thành) hoặc theo nguồn gốc của chúng như tế bào gốc nằm trong phôi được gọi là tế bào gốc phôi, và tế bào gốc có trong máu dây rốn được gọi là tế bào gốc máu dây rốn.

Tế bào gốc là gì? Khác biệt gì so với tế bào thông thường?

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Kình Cố vấn cao cấp Trung tâm Gen trị liệu, Bệnh viện Bạch Mai , tế bào gốc (stem cell) là các tế bào sinh học có khả năng biệt hoá thành các tế bào khác, từ đó phân bào để tạo ra nhiều tế bào gốc hơn.

Sự khác biệt giữa tế bào gốc và tế bào thông thường khác ở các yếu tố gồm:

  • Tế bào gốc không có chức năng cụ thể
  • Tế bào gốc có khả năng phân chia cao hơn
  • Tế bào gốc tồn tại nhiều nơi khác nhau
  • Tiềm năng biệt hóa

Tế bào gốc không giữ chức năng cụ thể

Tế bào gốc không giữ chức năng cụ thể mà giống như nguồn dự trữ tế bào; khi có tín hiệu kích thích, chúng sẽ phân chia và biệt hóa thành các tế bào cụ thể để thay thế cho những tế bào bị tổn thương hoặc chết. Tế bào thông thường đã biệt hóa có chức năng cụ thể như tế bào thần kinh có chức năng truyền tín hiệu…

Tế bào gốc có khả năng phân chia cao hơn

Các tế bào gốc có khả năng phân chia cao hơn các tế bào bình thường. Với chức năng dự trữ, thay thế những tế bào chết hay bị tổn thương, tế bào gốc có khả năng tự đổi mới: mỗi tế bào có khả năng phân chia thành hai tế bào, một giống hệt nó và một sẽ biệt hóa thành tế bào có chức năng. Trong khi đó, tế bào bình thường không phân chia (ví dụ tế bào xương, tế bào thần kinh) hoặc phân chia rất giới hạn, thời gian dài, hình thành hai tế bào con giống hệt nhau để thực hiện chức năng.

Vị trí tồn tại

Mỗi loại tế bào bình thường cư trú ở mô cụ thể, hoạt động thực hiện chức năng nhất định ở mô đó. Ngược lại, một loại tế bào gốc có thể tồn tại tại một hay nhiều mô khác nhau (tế bào gốc trung mô có thể tìm thấy ở mô mỡ, tủy xương, tủy răng,…). Các tế bào gốc thường ở trạng thái nghỉ, không phân chia trong một thời gian dài cho đến khi được kích hoạt bởi một số tín hiệu như chấn thương mô hoặc tình trạng bệnh.

Tiềm năng biệt hóa

Tế bào gốc có thể biệt hóa theo con đường bình thường để tạo ra các tế bào đã biệt hóa. Khả năng này phụ thuộc vào tiềm năng của từng loại tế bào gốc, loại có có tiềm năng càng lớn (biệt hóa ra nhiều loại tế bào khác nhau) thì càng nhận được nhiều sự quan tâm và ứng dụng. Ngược lại, tế bào đã biệt hóa không thể quay ngược lại thành tế bào gốc theo con đường tự nhiên.

Xem thêm thông tin về tế bào gốc là gì tại: Tế bào gốc là gì?

Phân loại tế bào gốc theo tiềm năng biệt hóa

Năm loại tế bào gốc khác nhau phân theo khả năng biệt hóa gồm:

  1. Tế bào gốc toàn năng (Totipotent or Omnipotent Stem Cells)
  2. Tế bào gốc vạn năng (Pluripotent Stem Cells)
  3. Tế bào gốc đa năng (Multipotent Stem Cells)
  4. Tế bào gốc Oligopotent (Oligopotent Stem Cells)
  5. Tế bào gốc đơn năng(Unipotent Stem Cells)
tế bào gốc
Tế bào gốc được phân thành 5 loại khác nhau theo khả năng biệt hóa

Tế bào gốc toàn năng

Những tế bào gốc này là “quyền năng nhất” tồn tại trong cơ thể người.

Chúng có thể biệt hóa thành các mô phôi, cũng như ngoài phôi, chẳng hạn như màng đệm, túi noãn. Ở người và các động vật có nhau thai khác, các mô này tạo thành nhau thai.

Đặc điểm quan trọng nhất của tế bào gốc toàn năng là nó có thể tạo ra một cơ thể sống có đầy đủ chức năng.

Ví dụ nổi tiếng nhất về tế bào toàn năng là trứng được thụ tinh (được hình thành khi tinh trùng và trứng hợp nhất để tạo thành hợp tử).

Vào khoảng bốn ngày sau khi thụ tinh, những tế bào này bắt đầu chuyên môn hóa thành tế bào gốc vạn năng, là loại tế bào linh hoạt, nhưng không thể tạo ra toàn bộ cơ thể sống.

Tế bào gốc vạn năng

Tầm quan trọng của loại tế bào này là nó có thể tự đổi mới và biệt hóa thành bất kỳ lớp nào trong ba lớp mầm, đó là: ngoại bì, nội bì và trung bì. Ba lớp mầm này tiếp tục phân hóa để tạo thành tất cả các mô và cơ quan bên trong con người.

Có một số loại tế bào gốc vạn năng đã biết. Trong số các tế bào gốc vạn năng tự nhiên, tế bào gốc phôi là ví dụ điển hình nhất. Tế bào gốc phôi là những tế bào duy nhất tồn tại trong phôi giai đoạn đầu.

Một loại tế bào gốc vạn năng “do con người tạo ra” khác cũng tồn tại, đó là tế bào gốc đa năng cảm ứng (tế bào iPS). Tế bào iPS lần đầu tiên được sản xuất từ ​​tế bào chuột vào năm 2006 và tế bào người vào năm 2007, và là tế bào mô cụ thể có thể được lập trình lại để trở nên giống tế bào gốc phôi về mặt chức năng.

Do khả năng biệt hóa mạnh mẽ trong nhiều loại mô và tính chất không cần bàn cãi của chúng, tế bào gốc đa năng cảm ứng rất thích hợp để sử dụng trong liệu pháp tế bào và y học tái tạo.

Tế bào gốc đa năng

Tế bào gốc đa năng là một loại tế bào gốc tầm trung, trong đó chúng có thể tự đổi mới và biệt hóa thành một loạt các loại tế bào cụ thể.

Một ví dụ tuyệt vời của loại tế bào này là tế bào gốc trung mô (MSC).

Tế bào gốc trung mô có thể biệt hóa thành nguyên bào xương (một loại tế bào xương), tế bào cơ (tế bào cơ), tế bào mỡ (tế bào mỡ) và chondrocytes (tế bào sụn).

Các loại tế bào này có đặc điểm khá đa dạng, đó là lý do tại sao tế bào gốc trung mô được phân loại là tế bào gốc đa năng.

Tế bào gốc Oligopotent

Loại tế bào gốc tiếp theo, tế bào gốc Oligopotent, tương tự như loại trước đó (tế bào gốc đa năng), nhưng chúng bị hạn chế hơn nữa về khả năng phân biệt.

Trong khi những tế bào này có thể tự đổi mới và biệt hóa, chúng chỉ có thể làm như vậy ở một mức độ hạn chế. Loại tế bào gốc này chỉ có thể làm như vậy đối với các loại tế bào có liên quan chặt chẽ.

Một ví dụ tuyệt vời của loại tế bào này là tế bào gốc tạo máu (HSC).

HSC là các tế bào có nguồn gốc từ trung bì có thể biệt hóa thành các tế bào máu khác. Cụ thể, HSC là các tế bào gốc tự do có thể biệt hóa thành cả tế bào dòng tủy và tế bào lympho.

Tế bào gốc đơn năng

Cuối cùng, chúng ta có các tế bào gốc đơn năng, là loại tế bào gốc hạn chế nhất.

Một ví dụ về loại tế bào gốc này là tế bào gốc cơ.

Trong khi tế bào gốc cơ có thể tự đổi mới và biệt hóa, chúng chỉ có thể hoạt động thành một loại tế bào duy nhất.

Phân loại tế bào gốc theo nguồn gốc của chúng

Tế bào gốc bắt nguồn từ hai nguồn chính: tế bào gốc phôi (Embryonic stem cells)và tế bào gốc trưởng thành (Adult stem cells)

Tế bào gốc phôi

Phôi được sử dụng trong nghiên cứu tế bào gốc phôi đến từ trứng được thụ tinh tại các phòng khám thụ tinh trong ống nghiệm nhưng không bao giờ được cấy vào tử cung của người phụ nữ.

Đây là những tế bào gốc đa năng, có nghĩa là chúng có thể phân chia thành nhiều tế bào gốc hơn hoặc có thể trở thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể. Tính linh hoạt này cho phép các tế bào gốc phôi được sử dụng để tái tạo hoặc sửa chữa các mô và cơ quan bị bệnh.

Tế bào gốc trưởng thành

Cơ thể của một người chứa các tế bào gốc trong suốt cuộc đời của họ. Cơ thể có thể sử dụng các tế bào gốc này bất cứ khi nào nó cần.

Còn được gọi là tế bào gốc mô cụ thể hoặc tế bào gốc soma, tế bào gốc trưởng thành tồn tại khắp cơ thể từ khi phôi thai phát triển.

Các tế bào ở trạng thái không đặc hiệu, nhưng chúng chuyên biệt hơn các tế bào gốc phôi. Chúng vẫn ở trạng thái này cho đến khi cơ thể cần chúng cho một mục đích cụ thể, chẳng hạn như tế bào da hoặc cơ.

Tế bào gốc trưởng thành phân làm 3 loại chính gồm:

  • Tế bào gốc máu (HSCs)
  • Tế bào gốc trung mô (MSCs)
  • Tế bào gốc biểu mô (EpSCs)

Tế bào gốc máu

Tế bào gốc máu (Hematopoietic Stem Cell – HSCs) là tế bào nguyên thủy có thể sinh trưởng và phát triển thành nhiều loại tế bào máu khác nhau bao gồm: bạch cầu, hồng cầu, và tiểu cầu. Tế bào gốc tạo máu có thể được tìm thấy trong máu ngoại vi, tủy xương, và đặc biệt nhiều trong máu cuống rốn trẻ sơ sinh.

Tế bào gốc trung mô

Tế bào gốc trung mô (Mesenchymal Stem Cell- MSCs) là những tế bào nguyên thuỷ đa năng, có khả năng tự tăng sinh và biệt hóa thành các tế bào thuộc mô liên kết như mỡ, xương, sụn và các loại tế bào chức năng khác như tế bào thần kinh, gan, tụy, thận… Đây là loại tế bào gốc được phân tách từ mô dây rốn.

Tế bào gốc biểu mô

Tế bào gốc biểu mô (Epithelial Stem Cells – EpSCs) là những tế bào nguyên thuỷ có khả năng biệt hoá thành các tế bào sừng (là những tế bào bề mặt da), tế bào gan và tế bào sản sinh chất nhầy mucin….để che phủ bề mặt như da, lớp che đậy mặt trong của các cấu trúc rỗng như ruột, đường hô hấp. Đây là loại tế bào gốc khó phân lập, và chúng được trích xuất từ màng dây rốn.

Phân loại tế bào gốc
Phân loại tế bào gốc

Ứng dụng của từng loại tế bào gốc

Loại tế bào Nguồn cung cấp Ứng dụng hiện nay
Tế bào gốc máu Tủy xương, máu cuống rốn… Điều trị bệnh về máu như bệnh bạch cầu, đa u tủy…
Tế bào gốc trung mô Mô dây rốn, mô mỡ, tủy xương… Điều trị các bệnh miễn dịch, thoái hóa… như thoái hóa khớp gối, tiểu đường, Parkinson…
Tế bào gốc biểu mô Màng dây rốn… Điều trị các bệnh về da, mắt, thần kinh như bỏng, thoái hóa điểm vàng, thoái hóa biểu mô thần kinh…

 

Live your life you love!

sent from Medeze with ❤️!